Cách tính diện tích xây dựng nhà 2 tầng từ móng đến mái

Cách tính diện tíchxây dựng nhà 2 tầng không chỉ dựa vào diện tích đất hoặc diện tích sàn của hai tầng. Khi xác định tổng diện tích xây dựng, chủ nhà cần xem xét thêm phần móng, ban công, sân, khoảng thông tầng và kết cấu mái theo hồ sơ thiết kế. Mỗi hạng mục có cách quy đổi riêng, vì vậy cần thống nhất phương pháp tính trước khi lập dự toán xây dựng nhà phố.

Nguyên Phát hướng dẫn cách xác định từng bộ phận công trình theo phương pháp tính diện tích thường được sử dụng trong báo giá xây dựng. Các tỷ lệ quy đổi trong bài mang tính tham khảo theo thông lệ thương mại, không phải hệ số bắt buộc áp dụng chung cho mọi công trình. Khối lượng cuối cùng cần căn cứ vào bản vẽ, kết cấu thực tế và phạm vi công việc trong hợp đồng.

Diện tích xây dựng nhà 2 tầng khác diện tích đất như thế nào?

Phân biệt diện tích đất và diện tích xây dựng nhà 2 tầng theo hướng dẫn của Nguyên Phát (NP Group)Phân biệt diện tích đất và diện tích xây dựng nhà 2 tầng theo hướng dẫn của Nguyên Phát (NP Group)

Phân biệt diện tích đất, diện tích sàn và tổng diện tích xây dựng

Diện tích đất là diện tích thửa đất được xác định theo hồ sơ pháp lý. Diện tích sàn là phần diện tích của một tầng theo nguyên tắc đo đạc được áp dụng cho hồ sơ tương ứng, còn tổng diện tích xây dựng dùng để bóc tách khối lượng phục vụ lập dự toán hoặc báo giá thi công. Ba khái niệm này có liên quan nhưng không đồng nhất.

Ví dụ, chủ nhà có lô đất rộng 5 m, dài 15 m, tương đương 75 m². Nếu xây nhà hai tầng với diện tích mỗi tầng là 75 m², tổng diện tích sàn của hai tầng là 150 m². Tuy nhiên, công trình còn có thể bao gồm móng, mái, ban công và những khu vực phụ trợ được tính theo phương pháp riêng.

Trong thực tế, diện tích xây dựng dùng để báo giá thường được tổng hợp từ diện tích sàn và diện tích quy đổi của các hạng mục liên quan. Một số phần được tính theo diện tích thực tế, một số phần áp dụng tỷ lệ quy đổi tùy loại kết cấu và thỏa thuận giữa chủ nhà với nhà thầu. Vì vậy, không nên lấy diện tích đất nhân với số tầng rồi xem đó là tổng diện tích xây dựng cuối cùng.

Chủ nhà cũng cần phân biệt diện tích xây dựng trong hồ sơ pháp lý với diện tích tính phục vụ báo giá. Giấy phép xây dựng và bản vẽ được phê duyệt xác định những thông số, phạm vi xây dựng cần tuân thủ; bảng tính của nhà thầu phục vụ bóc tách khối lượng theo phạm vi hợp đồng. Hai bộ hồ sơ có mục đích khác nhau và cần được đối chiếu khi cần thiết.

Cách quy đổi móng, tầng và các phần nhô ra

Quy đổi diện tích móng, tầng và ban công khi tính diện tích xây dựng nhà 2 tầng Nguyên Phát (NP Group)Quy đổi diện tích móng, tầng và ban công khi tính diện tích xây dựng nhà 2 tầng Nguyên Phát (NP Group)

Phần móng được tính theo loại kết cấu

Móng là bộ phận truyền tải trọng công trình xuống nền đất, nhưng diện tích quy đổi không giống nhau giữa móng đơn, móng băng và móng cọc. Khi tính khối lượng, cần xác định loại móng theo hồ sơ kết cấu, phạm vi thi công thực tế và phương pháp quy đổi mà nhà thầu áp dụng. Không nên mặc định mọi nhà hai tầng đều có cùng tỷ lệ diện tích móng.

Trong một số cách lập báo giá trên thị trường, diện tích móng được quy đổi theo tỷ lệ tham khảo như sau. Các mức này chỉ giúp chủ nhà hình dung cách tính ban đầu, không thay thế thiết kế kết cấu hoặc thỏa thuận trong hợp đồng.

Loại móngTỷ lệ tham khảoCăn cứ cần kiểm tra
Móng đơnKhoảng 20–30%Số lượng móng, kích thước và phạm vi thi công
Móng băngKhoảng 40–60%Phương án móng, chiều rộng và phạm vi kết cấu
Móng cọcKhoảng 40–50%Đài cọc, giằng móng và phạm vi công việc

Chẳng hạn, với diện tích tầng trệt 75 m², nếu hai bên thống nhất quy đổi móng băng bằng 50% diện tích tầng trệt thì diện tích móng tính vào bảng tổng hợp là 37,5 m². Đây là ví dụ minh họa cách nhân tỷ lệ, không phải kết luận rằng công trình thực tế bắt buộc phải áp dụng mức 50%. Phần ép cọc, đào đất hoặc xử lý nền cũng cần được xác định riêng về phạm vi công việc để tránh hiểu nhầm giữa diện tích quy đổi và khối lượng thi công.

Diện tích tầng trệt, tầng hai và ban công

Tầng trệt và tầng hai thường được tính theo diện tích sàn tương ứng trên bản vẽ. Nếu mỗi tầng có diện tích 75 m² thì tổng diện tích của hai tầng là 150 m². Trường hợp tầng trên lùi vào, có giếng trời hoặc có phần diện tích không xây dựng, chủ nhà cần kiểm tra kích thước thực tế thay vì mặc định hai tầng bằng nhau.

Ban công, lô gia và phần sàn nhô ra ngoài mặt bằng tầng có thể được tính theo diện tích thực tế nhân với tỷ lệ quy đổi đã thống nhất. Một số bảng báo giá tính ban công có sàn và lan can theo tỷ lệ 50–100%, tùy cấu tạo và phạm vi hoàn thiện. Đây không phải quy tắc áp dụng bắt buộc; phần có mái che, phần không có mái và phần kết cấu đua ra cần được mô tả rõ trên bản vẽ.

Để tự kiểm tra, chủ nhà nên ghi riêng diện tích sàn chính và diện tích ban công, sau đó đối chiếu với bảng khối lượng của nhà thầu. Nếu ban công đã nằm trong diện tích sàn được thống kê thì cần xác nhận cách đo để không cộng trùng. Cách làm này đặc biệt hữu ích khi xem xét hồ sơ thiết kế nhà phố cho thuê, nơi mặt bằng có thể được điều chỉnh để tăng diện tích sử dụng hoặc tạo không gian ngoài trời.

Khoảng thông tầng, giếng trời và ô trống cầu thang cũng cần được xác định theo bản vẽ. Phần sàn thực tế không được xây dựng không mặc nhiên được tính như một sàn kín hoàn chỉnh, nhưng các cấu kiện bao quanh, mái che hoặc hạng mục liên quan vẫn có thể thuộc phạm vi thi công. Chủ nhà nên yêu cầu nhà thầu ghi rõ cách xử lý từng khoảng trống trong bảng diện tích.

Cách tính sân, khoảng thông tầng và diện tích mái

Cách xác định diện tích sân, khoảng thông tầng và mái nhà 2 tầng Nguyên Phát (NP Group)Cách xác định diện tích sân, khoảng thông tầng và mái nhà 2 tầng Nguyên Phát (NP Group)

Sân trước, sân sau và khu vực không có mái

Sân trước và sân sau thường không được tính giống diện tích sàn có mái và tường bao. Tùy phương pháp báo giá, khu vực sân có thể được tính theo diện tích thực tế, áp dụng một tỷ lệ quy đổi hoặc không đưa vào nhóm diện tích xây dựng quy đổi. Sự khác biệt phụ thuộc vào hạng mục thực hiện, chẳng hạn lát nền, làm cổng, xây tường rào hay thi công mái che.

Ví dụ, sân trước rộng 5 m, dài 3 m có diện tích mặt bằng 15 m². Nếu hợp đồng quy định sân này được quy đổi bằng 50% thì phần diện tích quy đổi là 7,5 m². Nếu khu vực chỉ có công tác lát nền và không được tính theo tỷ lệ trên, cách xác định khối lượng phải theo phạm vi đã thống nhất. Không nên tự áp dụng hệ số của sân có mái cho sân hoàn toàn ngoài trời.

Với khoảng thông tầng hoặc giếng trời, cần kiểm tra xem phần sàn bị khuyết đã được trừ khỏi diện tích tầng hay chưa. Nếu phần thông tầng có mái kính hoặc kết cấu che phía trên, các hạng mục này cần được xác định riêng theo bản vẽ và phạm vi hoàn thiện. Việc tách riêng giúp tránh cộng trùng diện tích sàn, đồng thời không bỏ sót khối lượng thi công thực tế.

Diện tích mái theo từng loại kết cấu

Loại mái ảnh hưởng trực tiếp đến cách quy đổi diện tích. Mái bê tông cốt thép, mái tôn và mái ngói sử dụng hệ vì kèo có cấu tạo, vật liệu và phạm vi thi công khác nhau. Vì vậy, chủ nhà cần xác định đúng loại mái trên bản vẽ thay vì chỉ dựa vào diện tích mặt bằng tầng hai.

Loại máiTỷ lệ tham khảoĐiểm cần xác nhận
Mái bê tông cốt thépKhoảng 50%Phạm vi sàn mái và hạng mục chống thấm
Mái tônKhoảng 15–30%Diện tích mái, độ dốc và hệ khung
Mái ngói trên hệ vì kèoKhoảng 60–70%Diện tích mái nghiêng, hệ vì kèo và lớp lợp
Mái bê tông dán ngóiCó thể tính đến 100%Kết cấu bê tông và phạm vi lợp ngói

Các tỷ lệ trong bảng là mức tham khảo thường gặp trong cách lập diện tích quy đổi thương mại, không phải định mức pháp lý thống nhất. Mái có độ dốc lớn, hình dạng phức tạp hoặc nhiều khoảng đua có thể cần cách xác định riêng. Chủ nhà nên yêu cầu nhà thầu chỉ rõ tỷ lệ áp dụng, diện tích làm cơ sở tính và những công việc đã bao gồm trong phạm vi mái.

Đối với mái bê tông cốt thép, cần làm rõ cách tính phần sàn mái và các công tác như chống thấm, cán nền hoặc hoàn thiện bề mặt. Đối với mái tôn hay mái ngói, cần phân biệt diện tích mặt bằng chiếu bằng với diện tích bề mặt mái nghiêng. Đây là hai thông số khác nhau, đặc biệt khi mái có độ dốc và phần đua rộng.

Cách cộng các phần để xác định tổng diện tích xây dựng

Tổng hợp diện tích móng, các tầng, sân và mái để tính tổng diện tích xây dựng nhà 2 tầng Nguyên Phát (NP Group)Tổng hợp diện tích móng, các tầng, sân và mái để tính tổng diện tích xây dựng nhà 2 tầng Nguyên Phát (NP Group)

Ví dụ tính diện tích nhà hai tầng từ móng đến mái

Giả sử công trình có diện tích tầng trệt 75 m², tầng hai 75 m², móng băng quy đổi 50%, mái ngói trên hệ vì kèo quy đổi 70% và ban công 5 m² được quy đổi 100%. Để dễ kiểm tra, ví dụ này giả định các diện tích sàn chính chưa bao gồm ban công, đồng thời sân trước và sân sau chưa được cộng vào tổng.

Hạng mụcCách tínhDiện tích quy đổi
Móng băng75 × 50%37,5 m²
Tầng trệt75 × 100%75 m²
Tầng hai75 × 100%75 m²
Ban công5 × 100%5 m²
Mái ngói75 × 70%52,5 m²
Tổng cộngCộng các hạng mục245 m²

Kết quả 245 m² là tổng diện tích quy đổi theo các giả định đã nêu, không phải diện tích đất hoặc tổng diện tích sàn sử dụng. Nếu công trình có sân, giếng trời, mái che khác, phần móng có cấu tạo khác hoặc ban công đã nằm trong diện tích sàn, kết quả phải được điều chỉnh tương ứng. Cần dùng cùng một phương pháp đo và quy đổi cho toàn bộ bảng tính.

Kiểm tra bảng diện tích trước khi yêu cầu báo giá

Chủ nhà có thể lập bảng theo từng hạng mục, gồm tên bộ phận, kích thước thực tế, diện tích, tỷ lệ quy đổi và diện tích sau quy đổi. Mỗi con số nên truy xuất được về bản vẽ kiến trúc hoặc kết cấu. Khi nhà thầu sử dụng hệ số khác với mức tham khảo, cần yêu cầu giải thích căn cứ áp dụng để hai bên có thể đối chiếu trước khi ký hợp đồng.

Việc xác định diện tích là một phần của quá trình lập dự toán xây dựng nhà phố, nhưng không thay thế việc làm rõ phạm vi thi công. Hồ sơ cần phân biệt công việc thuộc phần thô, hoàn thiện nhà phố, chống thấm, mái che và các hạng mục phụ trợ. Với công trình kết hợp ở và cho thuê, chẳng hạn xây căn hộ dịch vụ, bản vẽ cũng cần thể hiện rõ các khu vực chung, ban công và phần kỹ thuật để hạn chế thiếu sót khi bóc tách khối lượng.

Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn TCVN có liên quan và giấy phép xây dựng cần được xem xét theo đúng phạm vi áp dụng của công trình. Những tài liệu này không đồng nghĩa với việc mọi nhà thầu phải sử dụng một tỷ lệ quy đổi diện tích thương mại giống nhau. Nguyên Phát khuyến nghị chủ nhà đối chiếu hồ sơ thiết kế, bảng diện tích, phạm vi công việc và điều khoản hợp đồng trước khi so sánh báo giá thi công nhà phố giữa các đơn vị.

Tóm lại, cách tính diện tích xây dựng nhà 2 tầng cần bắt đầu từ diện tích sàn thực tế, sau đó xác định riêng phần móng, ban công, sân, khoảng thông tầng và mái theo cấu tạo công trình. Bảng bóc tách rõ ràng giúp chủ nhà kiểm tra số liệu, phát hiện phần tính trùng hoặc bỏ sót và hiểu được cơ sở hình thành khối lượng trước khi chuyển sang bước lập ngân sách. Đây cũng là nền tảng để kiểm soát rủi ro phát sinh thông qua bản vẽ đầy đủ, phạm vi công việc minh bạch và hợp đồng chi tiết.

Tham khảo cách tính từng hạng mục để kiểm tra tổng diện tích xây dựng trước khi lập ngân sách hoặc yêu cầu báo giá.

Tags:

 
  • Chia sẻ qua viber bài: Cách tính diện tích xây dựng nhà 2 tầng từ móng đến mái
  • Chia sẻ qua reddit bài:Cách tính diện tích xây dựng nhà 2 tầng từ móng đến mái

tin tức

Liên quan

Không có thông tin cho loại dữ liệu này
Zalo
Xây nhà trọn gói TPHCM | Thiết kế thi công & hoàn công | Nguyên Phát